top of page
BÁI HỘI THÍCH CA MÂU NI PHẬT

HỒI HAI MƯƠI BẢY
DẠO BẢO ĐIỆNĐẠI HÙNG TÂY THIÊN
BÁI HỘI THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Phật Sống Tế Công
Giáng ngày 29 tháng 6 năm Canh Thân (1980)

 

Thơ
Phật pháp tây lai nhất tự vô
Toàn bằng tâm ý dụng công phu
Nhãn tàng chính pháp niêm hoa tiếu
Khổ hải từ hàng hóa tục ngu.

 

Dịch
Phật pháp tới đây một chữ “vô”
Thảy nhờ quyết chí gắng công phu
Cầm hoa cười mỉm truyền chân pháp
Biển khổ thuyền từ độ kẻ ngu.

 

Tế Phật: Phật pháp từ phương tây tới hóa độ rất nhiều chúng sinh mê muội, nhờ đó mà tính tình người Trung Hoa trở nên thuần phát, ý nghĩa Phật pháp khuyên đời đối với văn hóa truyền thống Trung Hoa không tính trước mà đạt thành, truyền thống này đã tiếp thu tôn giáo ngoại lai,rồi dung hợp phát huy rộng lớn, nhờ vậy vùng đất đó đã có lúc trở thành trung tâm tinh thần tín ngưỡng thế giới.


Ngày nay người tu theo Phật giáo rất nhiều, phổ biến đạo từ bi thật là rộng rãi để giúp đời làm lợi cho người, đối với thế đạo nhân tâm ơn ích quá nhiều. Xuất thân từ trong hàng thánh tăng nơi cửa Phật tôi cũng từng là tăng sĩ, La Hán hóa thân rồi bỏ nhà nhỏ của tôi đi tới từng nhà chúng sinh để thực hành duyên hóa độ nên mới gọi là vì chúng sinh mà xuất gia. Có một số người xuất gia song lại ẩn náu nơi chùa miếu, chẳng gặp chúng sinh, là từ nhà lớn tức xã hội trở về nhà nhỏ là chùa miếu. Tự giam hãm mình kể như là kẻ cô đơn, chẳng thể thành Phật muôn nhà, thực đáng tiếc thay. Lão tăng bữa nay sẽ hướng dẫn Dương Sinh tới cõi trời tây phương, bái hội đức Thế Tôn cùng kính cẩn nghe ngài thuyết pháp.
 

Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.
 

Tế Phật: ...Bảo điện Đại Hùng đã hiển hiện trước mắt, chúng ta mau tới trước lạy chào ra mắt đức Thế Tôn. 

 

Dương Sinh: Điện Đại Hùng coi thật là hùng vĩ, giống như một ngôi chùa vĩ đại ở tại thế gian, có rất nhiều tăng ni mặc áo cà sa đi đi lại lại, trong đó còn có các sa di nhỏ, cảnh này quả là một bức tranh tuyệt vời, tất cả các vị đó đều hướng về chúng tôi hành lễ.

Tế Phật: Đây là nước Phật trời tây, hoàn toàn thanh tĩnh  không vương một hạt bụi.

 

Dương Sinh: Đá quý, ngọc lưu li đầy đất lung linh tỏa chiếu, khí hậu êm đềm, hương vị đạo mầu thơm ngát...


Đức Thế Tôn ngồi chính giữa, tướng pháp trang nghiêm, toàn thân hào quang tỏa chiếu sáng ngời, hai bên còn có hai vị hộ pháp Vệ Đà khí thế phương phi, khiến người ta có cảm giác thần thánh đang hiện diện, không dám xâm phạm tới... Đệ tử khấu đầu lạy mừng đức Thế Tôn, bữa
nay đệ tử theo thầy tới thăm điện Tam Bảo, trong lòng vô cùng sung sướng, kính xin đức Thế Tôn khai mở Phật pháp.

 

Thế Tôn: Dương Sinh hãy đứng dậy. Phật pháp truyền qua đông phương hóa độ rộng lớn, trải qua bao thời đại không suy đồi, mạng huệ tồn tại mãi mãi là nhờ công Phật giáo đồ xả thân bảo vệ chính pháp, tôi rất cảm động. Nay gặp thời mạt pháp, các tôn giáo đều phát triển mạnh, riêng Phật giáo truyền bá khắp thế giới, các học giả quy y cửa Phật tu học ngày một đông, đủ biết Phật pháp giúp ích cho chúng sinh thật quả là nhiều. Phàm quy y cửa Phật, phải giữ gìn giới luật, suốt đời không chán, tu tới minh tâm kiến tánh đều được chứng đắc quả vị. Dương Sinh là sứ giả cửa thánh giáng cơ, đối với Phật pháp cũng chí thành tu học, quả là bậc trí thức có thiện tâm. Thánh Hiền Đường phổ truyền chân lí thánh hiền rất phù hợp với Phật giáo,
bởi lẽ “chớ làm các việc ác, hãy làm các việc thiện” (chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành). Có thể nói đó là chính pháp ở trong thời mạt pháp, Như Lai xuất hiện nơi cửa thánh để hóa độ chúng sinh, mở phương tiện pháp môn, tu công đức vô lượng, mọi người nên học lấy.

 

Dương Sinh: Đức Thế Tôn dạy rất đúng, cứ theo như đệ tử được biết, tín đồ cửa Phật dưới trần phỉ báng cửa thánh rất nhiều, coi việc giáng cơ bút là ngoại đạo là tà giáo, khiến nhiều người đau lòng, không rõ đức Thế Tôn nghĩ thế nào?
 

Thế Tôn: Phật giáo nhân gặp kì mạt pháp, đệ tử rời Phật quá xa, chúng sinh thời nay tuy có thiện căn nhưng thiếu tuệ căn, học Phật tu đạo đã đọc ít kinh lại không chịu tham khảo nghiên cứu rộng rãi. Chỉ học có Phật, còn ngoài ra kinh điển của các tôn giáo khác chẳng hề dòm ngó tới, hay giải thích theo lối chủ quan nên tạo thành thiên kiến, không coi các tôn giáo khác là “tôn giáo bạn”, rồi miệng chửi, bút chê đạo khác là ngoại đạo là tà thuyết, miệng
Phật phun máu, dao đồ tể sát sinh, tôi thật đau lòng.

Phật có bốn vạn tám ngàn pháp môn, Thánh Hiền Đường thờ phượng Tiên Phật, thánh hiền cổ đại rất ứng hợp với tâm Phật, thanh tâm thụ giới, tĩnh niệm kinh chú, thành tâm cầu khẩn thánh linh thượng giới giáng phàm, mây thơm liền tới, các Phật cùng bồ tát thanh tĩnh đều cảm ứng lòng thành, giáng lâm thuyết pháp dạy đạo, có duyên khai mở hướng dẫn để quảng độ bến mê. Nếu như các thiện nam tín nữ phụng hành ngũ giới, ra sức hành thiện, một lòng niệm Phật, ắt Phật tới ứng, sức Phật hộ trì cơ bút viết nên, diệu bút sinh hoa thuyết pháp độ chúng thực là hợp lí dễ thực hành, mong Phật tử chớ coi khinh Phật khác mà tự hủy diệt tuệ căn. Bởi vì mắt tuệ của chúng sinh đã bị che mờ, họ chỉ đọc kinh giấy, tai chỉ nghe người nói mới thốt ra lời phỉ báng. Ánh đạo tỏa ngời, bút thiêng xúc động liền viết nên lời, nếu như tôi được thấy chắc hẳn là cũng sẽ “hữu cảm giai thông” tức là có cảm thì đều thông, niệm Phật Phật tới, còn nếu như không tin Phật, mà lại sớm hôm tụng kinh niệm chú thì chẳng hóa ra là tà ma ngoại đạo ư?
 

Dương Sinh: Đức Thế Tôn quả xứng đáng là bậc được thế gian tôn thờ, pháp ngài thuyết khiến người đời quý trọng, thế gian sùng kính lẽ công bằng, các tôn giáo đều chỉ cần không phản bội phong tục ngay lành, có ích lợi cho thế đạo nhân tâm đều là chính giáo. Phật được đời tôn sùng vì đã đem từ bi bình đẳng ra dạy chúng sinh, coi tất cả chúng sinh như một, bốn loài chúng sinh, sáu ngả luân hồi đều là ba đời quyến thuộc, đều cùng tính Phật, cũng là thân Phật,
nếu như khinh thị đồng bào nhân loại, tiếng gọi là học Phật song phản Phật, không rõ cao kiến của đức Thế Tôn ra sao?

 

Thế Tôn: Phật pháp bao dung tất cả, cho nên mới nói Phật pháp vô biên, ngoại giáo như áo cà sa bên ngoài, kẻ tu hành phải mặc để hộ Phật thân há lại vất nó, hủy nó.
Chúng sinh trên đất rộng, mỗi cá nhân đều mang một thiên chức riêng, tôn kính Phật, sống đời sống Phật há lại còn nuôi tính chà đạp dày xéo hay sao? Phàm những kẻ bài xích tôn giáo, đả phá người khác đều do tại tâm riêng rẽ, tâm ghen ghét, tâm sân si chưa diệt, miệng Phật phun
thuốc lửa, giết hại biết bao người có khác chi đồ tể. Hoa tươi trái ngọt dâng cúng Phật hẳn là cũng do chúng sinh ngoại đạo khổ cực trồng trọt do bàn tay của chúng sinh ngoại đạo vun xới, Phật có chối bỏ không? Hay là Phật cảm động phát khởi lòng từ bi. Ăn mặc trú ngụ di chuyển
các phương tiện đó của các tăng ni nơi cửa Phật ai người cung ứng? Ai người chế tạo? Mong tăng ni nơi cửa Phật mau vứt bỏ dao đồ tể chớ sát hại bạn lành ân đức, để khỏi bị đày đọa vô thời hạn, khổ báo vô cùng tận.


Dương Sinh: Công đức của đức Thế Tôn vô lượng, Như Lai đại công bằng, tâm hồn vô biên, độ được mọi chúng sinh, thuyết pháp không thiên lệch, chỉ nhằm giúp tâm chúng sinh khai mở, đệ tử xin đảnh lễ ngài.
 

Thế Tôn: Tôi có chính pháp nhãn tạng lưu truyền thiên hạ, mãi mãi như kim cương không thể hủy diệt, ai giác ngộ được thì đều thành Phật.
 

Dương Sinh: Thưa, có phải đó là pháp “Niết bàn diệu tâm” chăng?
 

Thế Tôn: Phải. Thực tướng vô tướng, thấy liền ngay trước mắt.
 

Dương Sinh: Tức là nhìn thấy Phật ngay trước mặt, ngược nhìn phía sau chẳng thấy.


Thế Tôn: Sinh ở đất Phật này, khắp nơi đều là Phật, rời khỏi đất Phật này, thấy mình là Phật, nếu như chẳng thấy,  lấy gương mà soi hẳn là sẽ thấy, xác nhận chính mình với Phật là một, “hình tâm tướng phản ảnh”, không lìa xa tâm ắt tự nhiên thành Phật.
 

Dương Sinh: Phải phải. Đệ tử thấy trước trán đức Phật Đà có một hạt màu đỏ là tại sao?
 

Thế Tôn: Sinh ra là có, chết đi chẳng mất, một mình tới lui, không mở không nhắm, đó là mắt Phật. Dùng mắt đó nhìn sự vật sẽ không thiên lệch nhìn mình sẽ trung chính không nghiêng trái phải, chỉ một không hai, ngọn đèn sáng trên núi Linh Sơn, nhờ đó mà minh tâm kiến tánh,
vào thẳng đất Như Lai cho nên nói chính pháp nhãn tạng, siêu diệu chẳng thể diễn tả bằng lời. (1)

 

Tế Phật: Mắt đó có thể nhìn thấu suốt tam thiên đại thiên thế giới, lớn thì như núi Tu Di, nhỏ thì bằng hạt cát, cho nên nói: “tỏa thì ngợp cả vũ trụ, thâu thì lui vào ẩn nơi u mật”.
 

Dương Sinh: Thưa các tăng ni đại đức xuất gia trên đỉnh đầu có ghi dấu giới luật là nghĩa tại sao?
 

Thế Tôn: Vết sẹo đốt có mùi hương làm nổi bật tính Phật. Những tăng ni trên đầu có dấu nhang đốt, ý là trên đỉnh sọ đã nở hoa, đầu đó đúng là đầu Phật, điển phải tròn đầy mới
có thể kết thành trái Ba La Mật. Kẻ thụ giới nếu như phản bội chính đạo ắt dấu ghi giới luật chẳng thể sinh thành mạ bồ đề, vô hình trung mọc thành rễ tội ác, đầu biến thành đầu quỷ, do đó Phật quốc tây phương khó có thể tới gần nổi.

 

Dương Sinh: Thì ra nguyên lai là như vậy. Phật nháy mắt, nói một lời, làm một chữ đều là pháp Phật, chẳng thể nghĩ suy. Kính hỏi đức Thế Tôn như nay có người tu học đạo
Phật thì họ phải làm như thế nào mới có thể thành đạo?

 

Thế Tôn: Muốn làm một đệ tử chính đáng nơi cửa Phật, tất nhiên phương pháp tu trì phải tuân theo như dưới đây:
 

1. Tín: Tin Phật là thật, tin mình không giả, tin người không khác lạ, ba điều tin hợp làm một lẽ tướng, kẻ tin được cứu, kẻ tin thành Phật.
 

2. Giải: Giải ngộ Phật pháp, chớ đui mù vì chữ nghĩa, muốn giải kinh trước phải giải tâm, nếu như chỉ giải văn chương chữ nghĩa trong kinh, mà chẳng giải gốc tâm khác nào đem thân quý báu nhốt vào nhà ngục, đã là tù nhân làm sao giải thoát thành Phật? Có giải trừ được ba cái độc là tham, sân, si thì thân tâm mới tĩnh và vào được đất Phật.
 

3. Hành: Hiểu rành được “tín, giải” nhưng nếu chẳng hành cũng kể như không, tu đạo quý ở sự thực hành cho nên mới nói “tu hành”. Hành giả cần phải có phong thái mô phạm thanh cao, vì “hành giả mà đi một mình thì đạo mà hành giả tu đó chỉ là đạo nhỏ, đạo có nhiều kẻ đồng hành cùng tu mới là đạo lớn”. Cho nên hành giả đi một mình là để hóa độ chúng sinh đồng hành, có như vậy mới hợp tôn chỉ của đạo từ bi là: “không làm anh hùng hảo hán cá nhân”.
 

4. Chứng: Phật có tám vạn bốn ngàn pháp môn, phàm thành tâm kiên trì tu luyện đều có thể thành đạo, bất kì ai có tu là có nghiệm, thiền tăng cư sĩ thực tu là thực chứng. Các tôn giáo, các pháp khác cũng vậy họ có tu họ đều có chứng, chớ có sinh tâm phân biệt, sân hận, phỉ báng để rồi tự thiêu hủy chôn vùi mất tự tính công đức, tiêu diệt mất tuệ căn, khác nào cây đập “người đi”, lá rơi quả rụng, chỉ vì muốn hại người mà bị người hại, cho nên nói: “Lấy lửa đốt
trời thành tự đốt mình” phải nhớ kĩ điều đó.


Bốn điều kể trên đã đủ là căn bản để bước vào con đường tu đạo, chỉ cần thanh tĩnh thêm ba nghiệp là giác ngộ được ba kiếp nhân quả luân hồi:
 

1. Thân nghiệp: Không đi nẻo tà, không nhiễm thói ác, không nỡ hại sự sống tức là không giết chóc, không trộm cướp, không gian dâm ắt thân nghiệp thanh tĩnh.
 

2. Khẩu nghiệp: Không nói lời xằng bậy, gian dối điêu ngoa, vu oan giá họa ắt khẩu nghiệp thanh tĩnh.
 

3. Ý nghiệp: Không tham, sân, si ắt ý nghiệp thanh tĩnh. Thanh tĩnh được ba nghiệp rồi lại còn phải chăm chỉ hành pháp “lục độ”:
 

1. Bố thí: Thấy bất cứ chúng sinh nào đau khổ mình đều phải có lòng từ bi tinh thần cứu giúp “người bị chìm đắm coi như là mình bị chìm đắm, người bị đói khát coi như là mình bị đói khát, phải bố thí để cho kẻ khổ bớt khổ, kẻ mê hết mê”. Bố thí chia làm ba loại như sau:
 

a) Bố thí tiền tài: Dùng tiền bạc, đồ vật giúp đỡ kẻ nghèo khổ để đời sống của họ khá hơn. Ấn tống kinh sách dạy điều thiện để khuyến hóa độ nhân, để cải thiện tâm tính chúng sinh.
 

b) Bố thí dũng: Đối với những kẻ thống khổ phải mềm mỏng thương yêu an ủi họ, thấy người nguy khốn ra tay cứu giúp để tâm nạn nhân được bình an, chớ khiến họ hoảng kinh thêm. Còn đối với chùa chiền Phật đường ra sức quét dọn tu bổ, đối với những kẻ phỉ báng chính pháp
nên sử dụng dũng chí phát huy chân lí để cảm hóa họ.

 

c) Bố thí pháp: Dùng các điều mình đã học, đã giác ngộ được về chân lí Phật pháp thuyết giảng cho mọi người cùng biết, để họ cũng được hưởng mưa pháp thấm nhuần, chuyển mê thành ngộ, học tu thành đạo.
 

2. Trì giới: Giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh mới có thể hiển lộ được pháp tướng đoan trang. Có trì giới thì thân, khẩu, ý mới thanh tĩnh không phạm ác nghiệp. Phải giữ năm giới là: không sát sinh, không trộm đạo, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Ngoài ra xa hoa, ca múa, hút ma túy khiến thần mê, mắt loạn đều bị cấm chỉ để giữ thân tâm thanh tịnh.
 

3. Nhẫn nhục: Con đường tu đạo trở ngại ắt nhiều, gặp sự chửi bới gây gổ không oán không giận, dùng “nhẫn” hóa “nộ” ắt tâm tự an. Ngoài nhẫn đói lạnh, trong nhẫn thất tình lục dục, có như vậy đạo chí mới vững bền, chẳng sợ nguy khốn việc học đạo độ người mới có thể thành nổi.
 

4. Tinh tiến: Biển Phật vô biên, núi đạo cao vời học không ngừng nghỉ, nghiên cứu chân lí không một phút rời. Nếu như sai lầm được người chỉ dẫn phải sửa đổi ngay, gặp cơ hội giúp ích cho chúng sinh phải gắng sức làm ngay không được chối từ, chăm chỉ không được lười biếng ắt tới được bờ bên kia.
 

5. Thiền định: Muốn tu luyện thành Phật, cần phải tĩnh tâm để khỏi rối loạn. Phải phổ độ chúng sinh tinh thần cần phải được huấn luyện thật đặc biệt thì khi thiền định tư tưởng đen tối mới có thể phát sinh trí huệ, gặp khi động loạn mới có định lực.
 

6. Trí tuệ: Tâm tính kẻ tu hành đều có trí huệ cao thiên kinh vạn quyển kiến thức sâu rộng, từng trải việc đời có thể biện luận thông suốt. Biết hết mọi điều hóa độ chúng sinh không những tự nhiên dễ dàng, bản thân kẻ tu đạo lại có thể tránh khỏi đọa lạc vào vòng ma chướng.
 

Dương Sinh: Những lời đức Thế Tôn chỉ dạy về Phật pháp quả là kim chỉ nam cho những kẻ tu hành, đệ tử được ban ân quá nhiều, cúi đầu lạy tạ đức Thế Tôn.
 

Thế Tôn: Người đời nếu như biết tôn trọng và thi hành các pháp tu tôi vừa trình bày chắc hẳn sẽ thành đạo.


Tế Phật: Vì thời giờ đã trễ, bữa nay xin ngừng tại đây, bái từ đức Thế Tôn.

Thế Tôn: Lành thay, ước mong Phật pháp phổ truyền rộng rãi khắp thế giới để chúng sinh cùng được hưởng mưa pháp, khỏi đau khổ, được yên vui.

 

Tế Phật: Dương Sinh lên đài sen... Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác...   

Services
About
Portfolio
Contact
bottom of page